Thứ Tư, 12 tháng 9, 2018

Khám phá các chỉ số trong xét nghiệm nước tiểu

Xin chương trình cho tôi biết ý nghĩa các chỉ số trong xét nghiệm nước tiểu >> xét nghiệm adn ở tphcm

Khám phá những chỉ số trong giám nghiệm nước tiểu



Trả lời: 
Các chỉ số trong xét nghiệm nước tiểu
Tên, ý nghĩa và giới hạn cho phép 

Leukocytes (LEU ca): tế bào bạch cầu
- bình thường âm tính; 
- chỉ số cho phép: 10-25 Leu/UL. 
- Khi nước tiểu có chứa bạch cầu, thai phụ có thể đang bị nhiễm khuẩn hoặc nấm (có giá trị gợi ý nhiễm trùng tiểu chứ không khằng định được). Trong quá trình chống lại các vi khuẩn xâm nhập, một số hồng cầu đã chết và thái ra đường tiểu. Bạn cần xét nghiệm nitrite để xác định vi khuẩn gây viêm nhiễm.

Nitrate (NIT): 

thường dùng để chỉ tình trạng nhiễm trùng đường tiểu. - Bình thường âm tính. 
- chỉ số cho phép: 0.05-0.1 mg/dL. 
- Vi khuẩn gây nhiễm trùng đường niệu tạo ra 1 loại enzyme có thể chuyển nitrate niệu ra thành nitrite. Do đó nếu như tìm thấy nitrite trong nước tiểu có nghĩa là có nhiễm trùng đường niệu. Nếu dương tính là có nhiễm trùng nhất là loại E. Coli. 

Urobilinogen (UBG)

- dấu hiệu cho thấy có bệnh lý ở gan hay túi mật 
- bình thường không có
- Chỉ số cho phép: 0.2-1.0 mg/dL hoặc 3.5-17 mmol/L
- đây là sản phẩm được tạo thành từ sự thoái hóa của bilirubin. Nó cũng được thải ra ngoài cơ thể theo phân. Chỉ có một lượng nhỏ urobilinogen có trong nước tiểu. Urobilinogen có trong nước tiểu có thể là dấu hiệu của bệnh về gan (xơ gan, viêm gan) làm dòng chảy của dịch mật từ túi mật bị nghẽn.

Billirubin (BIL) 

- dấu hiệu cho thấy có bệnh lý ở gan hay túi mật 
- bình thường không có
- Chỉ số cho phép: 0.4-0.8 mg/dL hoặc 6.8-13.6 mmol/L
- đây là sản phẩm được tạo thành từ sự thoái hóa của hồng cầu. Nó đi ra khỏi cơ thể qua phân. Billirubin bình thường không có trong nước tiểu. Nếu như billirubin xuất hiện trong nước tiểu nghĩa là gan đang bị tổn thương hoặc dòng chảy của mật từ túi mật bị nghẽn. ≫> giám định adn ở hà nội

Protein (pro): đạm 

- dấu hiệu cho thấy có bệnh lý ở thận, có máu trong nước tiểu hay có nhiễm trùng
- bình thường không có
- chỉ số cho phép: trace (vết: không sao); 7.5-20mg/dL hoặc 0.075-0.2 g/L
- Nếu xét nghiệm phát hiện trong nước tiểu chứa protein, tình trạng của thai phụ có thể liên quan đến các chứng: thiếu nước, mẫu xét nghiệm chứa dịch nhầy, nhiễm trùng đường tiểu, tăng huyết áp, có vấn đề ở thận... Vào giai đoạn cuối thai kì, nếu lượng protein nhiều trong nước tiểu, thai phụ có nguy cơ bị tiền sản giật, nhiễm độc huyết. Nếu thai phụ phù ở mặt và tay, tăng huyết áp (h140/90mmHg), bạn cần được kiểm tra chứng tiền sản giật ngay. Ngoài ra, nếu chất albumin (một loại protein) được phát hiện trong nước tiểu cũng cảnh báo thai phụ có nguy cơ nhiễm độc thai nghén hoặc mắc chứng tiểu đường.

pH 

- đánh giá độ acid của nước tiểu 
- bình thường: 4,6 - 8
- dùng để kiểm tra xem nước tiểu có tính chất acid hay bazơ. PH=4 có nghĩa là nước tiểu có tính acid mạnh, pH=7 là trung tính (không phải acid, cũng không phải bazơ) và pH=9 có nghĩa là nước tiểu có tính bazơ mạnh. 

Blood (BLD)

- dấu hiệu cho thấy có nhiễm trùng đường tiểu, sỏi thận, hay xuất huyết từ bàng quang hoặc bướu thận 
- bình thường không có
- Chỉ số cho phép: 0.015-0.062 mg/dL hoặc 5-10 Ery/ UL
- Viêm, bệnh, hoặc tổn thương thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo có thể làm máu xuất hiện trong nước tiểu


Specific Gravity (SG)

- đánh giá nước tiểu loãng hay cô đặc (do uống quá nhiều nước hay do thiếu nước) 
- bình thường: 1.005 - 1.030

Ketone (KET) 

- dấu hiệu hay gặp ở bệnh nhân tiểu đường không kiểm soát, chế độ ăn ít chất carbohydrate, nghiện rượu, nhịn ăn trong thời gian dài. 
- bình thường không có hoặc đôi khi có ở mức độ thấp đối với phụ nữ mang thai
- chỉ số cho phép: 2.5-5 mg/dL hoặc 0.25-0.5 mmol/L
- đây là chất được thải ra ở đường tiểu, cho biết thai phụ và thai nhi đang thiếu dinh dưỡng hoặc mắc chứng tiểu đường. Khi phát hiện lượng kentone, kèm theo các dấu hiện chán ăn, mệt mỏi, thai phụ nên được bác sĩ chỉ định truyền dịch và dùng thuốc. Để giảm hết lượng kentone, thai phụ nên thư giãn, nghỉ ngơi và cố gắng không bỏ bất kỳ bữa ăn nào

Glucose (Glu)

- dấu hiệu hay gặp ở bệnh nhân tiểu đường 
- bình thường không có hoặc có thể có ở phụ nữ mang thai
- chỉ số cho phép: 50-100 mg/dL hoặc 2.5-5 mmol/L
- là một loại đường có trong máu. Bình thường thì trong nước tiểu sẽ không có hoặc có rất ít glucose. Khi đường huyết trong máu tăng rất cao, chẳng hạn như đái tháo đường không kiểm soát thì đường sẽ thoát ra nước tiểu. Glucose cũng có thể được tìm thấy bên trong nước tiểu khi thận bị tổn thương hoặc có bệnh.
- nếu bạn dùng nhiều thức ăn ngọt trước khi xét nghiệm, sự xuất hiện của hàm lượng glucose trong nước tiểu là điều bình thường. Nhưng nếu lượng đường ở lần xét nghiệm thứ hai cao hơn lần đầu, đây là dấu hiệu cảnh báo bạn có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Nếu có kèm các chứng mệt mỏi, luôn khát nước, sụt cân, bạn nên đến bác sĩ để được kiểm tra lượng đường huyết.
.Nếu có dấu hiệu thì nên đi làm Test đánh giá dung nạp glucose để có kết quả chính xác hơn

ASC (Ascorbic Acid)
- chất thải trong nước tiểu để đánh giá bệnh về thận
- chỉ số cho phép: 5-10 mg/dL hoặc 0.28-0.56 mmol/L


Nguồn: sưu tầm

Cách để sử dụng thuốc tránh thai hàng ngày chuẩn

Tụi em vừa mới cưới nên chưa muốn có con sớm. Cho em hỏi tụi em có thể sử dụng thuốc ngừa thai hằng ngày được không? Nếu được thì cho em hỏi sau khi uống thuốc bao lâu thi mới quan hệ được và ví như tụi em muốn có con thì ngừng dùng thuốc ngừa thai trong thời gian bao nhiêu lâu trước khi quyết định thụ thai . Xin giúp em với, tụi em sắp làm đám cưới rồi. Em xin chân thành cám ơn! ≫> xét nghiệm adn ở đâu tốt nhất

Cách để áp dụng thuốc tránh thai hàng ngày đúng cách

Trả lời: 
Thuốc tránh thai hàng ngày là gì?

Thuốc tránh thai hàng ngày là loại thuốc chứa hai thứ hormone sinh dục nữ estrogen và progesterone. Trên thị trường hiện nay có rất nhiều nhãn hiệu như: Giải pháp hoa hồng xanh, Choice, Rigevidon, Marvelon, Microgynon… Được đóng thành vỉ 21 hoặc 28 viên. 
Việc uống mỗi ngày một lượng nhỏ hormone sinh dục nữ giúp bạn gái duy trì lượng hormone trong cơ thể làm cho trứng không rụng. Ngoài ra thuốc còn làm mỏng niêm mạc tử cung để trứng thụ tinh cũng không làm tổ. Thêm nữa thuốc tránh thai hàng ngày còn làm đặc chất dịch nút cổ tử cung để chống tinh trùng đi qua và làm giảm sự di chuyển của tinh trùng trong ống dẫn trứng. 
Thuốc có hiệu quả tránh thai rất cao, khoảng 99% đảm bảo an toàn, giúp hai bạn yên tâm khi sinh hoạt tình dục. Thuốc tránh thai hàng ngày chỉ có tác dụng tránh mang thai nhưng không có tác dụng phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong đó có cả HIV/AIDS. 
Đa số phụ nữ đều dùng được thuốc tránh thai, trừ những người bị bệnh tim, bệnh gan, huyết áp cao, đái đường, người trên 35 tuổi hút thuốc lá, người đang sử dụng thuốc chữa lao và những người phát hiện có ung thư ở vú hoặc cơ quan sinh dục. 
Nếu bạn không rơi vào những trường hợp này, bạn có thể sử dụng thuốc tránh thai mà không ảnh hưởng đến sức khỏe (tốt nhất trước khi sử dụng hãy tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa Kế hoạch hoá gia đình hoặc bác sĩ sản khoa). 

Khi bắt đầu sử dụng có thể bắt gặp một số tác dụng phụ của thuốc như: rong huyết, buồn nôn, cương vú, đau đầu, tăng cân nhẹ, vô kinh, thay đổi tâm trạng, trứng cá... Song, số này ít và thường trong vòng 3 tháng có thể sẽ quen thuốc, các tác dụng phụ sẽ biến mất. 
Ưu điểm của thuốc tránh thai hàng ngày là hình thành cho bạn gái chu kỳ kinh nguyệt đều đặn, giảm đau bụng, đau lưng trước hành kinh, giảm nguy cơ ung thư buồng trứng, có thể chủ động khi muốn tránh thai hoặc ngừng thuốc khi muốn có con.

Cách sử dụng thuốc tránh thai hàng ngày

Để tránh thai đạt hiệu quả cao bạn nên nhớ là: uống hàng ngày chứ không phải chỉ uống vào ngày có quan hệ tình dục. 
Để dễ nhớ, bạn nên uống vào một giờ nhất định. Có nhiều người sợ quên đã nghĩ ra mẹo uống thuốc vào lúc làm một việc mà ngày nào cũng phải làm như: sau khi đánh răng buổi sáng, khi ăn cơm chiều hoặc trước khi đi ngủ... 
Để dễ nhớ và tránh thai có hiệu quả với thuốc thì bạn hãy nhớ 4 qui tắc số 1 sau: 
- Uống từ ngày thứ 1 của vòng kinh (ngày bắt đầu ra kinh).
- Ngày uống 1 viên. - Uống vào 1 giờ nhất định.
- Uống liền 1 mạch, hết vỉ này sang vỉ khác đến khi không có nhu cầu tránh thai nữa (đó là vỉ 28 viên). 
Đối với vỉ 21 viên thì bạn uống thứ tự theo mũi tên in trên vỉ, hết vỉ thì nghỉ 7 ngày rồi uống vỉ tiếp theo.
Làm gì khi quên uống thuốc tránh thai hàng ngày?

Trong quá trình sử dụng thuốc tránh thai hàng ngày, đôi khi bạn có thể quên uống một viên thuốc. Trong trường hợp này, khả năng có thai không lớn. Tuy nhiên, để đề phòng, bạn hãy làm đúng như sau: 
- Quên 1 viên: khi nhớ ra, bạn uống viên đó ngay, viên sau uống vào đúng giờ uống thông thường. Trong vòng 48 tiếng sau đó, bạn nên tránh giao hợp hoặc nếu giao hợp thì dùng bao cao su. Sau đó bạn uống tiếp vỉ thuốc như bình thường.
- Quên 2 viên: uống bù ngay hai viên khi nhớ ra, viên tiếp theo uống vào giờ thông thường. Nếu có giao hợp, bạn nên dùng bao cao su cho đến khi uống hết vỉ thuốc. 
- Quên 3 viên: bạn bỏ vỉ đang uống đi, bắt đầu một vỉ mới. Có thể coi như bạn mới bắt đầu dùng thuốc, 7 ngày đầu tiên chưa có tác dụng, tránh giao hợp hoặc dùng bao cao su nếu giao hợp.

Nên ngừng dùng thuốc tránh thai trong thời gian bao nhiêu lâu trước khi quyết định thụ thai

Lời khuyên cho bạn là nên ngừng uống thuốc tránh thai 2 - 3 tháng trước khi quyết định thụ thai bởi vì cũng như tác dụng ngăn ngừa sự rụng trứng, thuốc tránh thai dạng viên gây ra sự thay đổi trong tử cung của bạn. 

Nếu bạn có thai trở lại ngay sau khi ngừng thuốc, bào thai sẽ khó bám chắc vào dạ con. Điều này có nghĩa, bạn dễ có nguy cơ bị sẩy thai. Vậy nên hãy chờ cho tới khi dạ con phục hồi lại theo nhịp sinh học vốn có chứ không phải do tác động của thuốc thì hãy thụ thai. 

Có một số thông tin cho rằng chỉ cần 1 - 2 tháng là vòng kinh đã trở lại bình thường (như vốn có của cơ thể); một số quan điểm khác lại cho rằng hormone trong viên thuốc sẽ bị loại trừ khỏi cơ thể hoàn toàn ngay khi kỳ kinh mới bắt đầu vì vậy nếu có bầu ngay thì cũng thật là điều đáng mừng.

Trước đây, khi liều lượng hormone trong thuốc tránh thai ở mức cao hơn thì chúng ta có cơ sở để lo lắng rằng việc có bầu trong khi uống thuốc hay vừa ngừng uống thuốc sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của bào thai. Tuy nhiên, ngày càng nhiều nghiên cứu cho thấy không có bằng chứng nào về sự bất thường của thai nhi. 

Bé của bạn sẽ không gặp bất cứ sự đe dọa nào nếu bạn mang bầu trong khi uống thuốc hay ngay sau khi vừa ngưng thuốc.
Vì vậy, nếu bạn cần lời khuyên chuyên sâu hơn, bạn có thể đến khám và gặp bác sĩ chuyên khoa Sản - Phụ khoa để được trả lời.

Chúc bạn sức khoẻ và hạnh phúc!

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2018

Tìm hiểu bốn loại xét nghiệm nhiều nhất ngày nay

Về bảng kết quả của mỗi loại giam định sẽ hỗ trợ 1 loại chỉ số khác nhau và được sử dụng để chuẩn đoán các bệnh lý riêng. Bài viết sau đây sẽ giúp bạn có thể chọn lựa phương pháp phù hợp nhất đối với yêu cầu giám nghiệm của mình. ≫> xet nghiem adn o dau

Khám phá 4 loại giam định đa dạng nhất ngày nay

Hiện tại, có 4 phương pháp xét nghiệm phổ biến và chính xác nhất bạn có thể lựa chọn như:
1. Xét nghiệm máu, nước tiểu, phân
Đây là 3 xét nghiệm nền móng cần có trong tất cả các trường hợp chẩn đoán. Hiện tại, có tới 70% bệnh lý đã có thể chuẩn đoán chỉ nhờ xét nghiệm máu như:
Xét nghiệm sàng lọc virus bệnh truyền nhiễm và bệnh xã hội: HIV, viêm gan B, C; sốt xuất huyết
Xét nghiệm chuẩn đoán bệnh không lây nhiễm: ung thư, tiểu đường, gout, bệnh về tim mạch, gan, thận, hệ tiêu hóa
Trong khi đó, xét nghiệm nước tiểu và phân thường để chuẩn đoán bệnh ở những cơ quan đặc thù:
Xét nghiệm nước tiểu: thường được chỉ định trong các trường hợp nhiễm trùng, viêm nhiễm và các bệnh liên quan đến gan, thận và mật.
Xét nghiệm phân: giúp xác định bệnh về đường tiêu hóa, gan mật, và tuyến tụy. Cùng với đó kiểm tra khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng >> dịch vụ xét nghiệm adn
2. Xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh
Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh được dùng gồm: chụp X quang, siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ hoặc PET-CT giúp các bác sĩ quan sát chi tiết các bộ phận bên trong cơ thể để phát hiện ra các bất thường, chẳng hạn như khối u, vết loét, tình trạng sưng phù...ở các bộ phận như phổi, tim, não, xương, dạ dày, gan, mật.
3. Xét nghiệm bằng phương pháp nội soi
Nội soi là phương pháp xét nghiệm có độ chính xác cao do bác sĩ được nhìn hình ảnh trực quan thông qua camera được đưa vào sâu bộ phận cần thăm khám. Đây là xét nghiệm dùng trong chẩn đoán các bệnh liên quan đến tai, mũi, họng và đường tiêu hóa, trong đó có cả ung thư.
4. Xét nghiệm sinh thiết
Xét nghiệm sinh thiết dùng để kiểm tra một mẫu nhỏ của mô cơ thể được lấy ra dưới kính hiển vi. Mẫu mô này có thể được lấy từ bất cứ vị trí nào trên cơ thể, kể cả da, nội tạng và các cấu trúc khác.
Xét nghiệm sinh thiết được sử dụng phổ biến trong chẩn đoán:
Ung thư
Các trường hợp bị nhiễm khuẩn hoặc viêm không rõ nguyên nhân như viêm gan, viêm thận hay bệnh lao.
Và hơn thế nữa còn có những phương pháp giám nghiệm được sử dụng trong chuẩn đoán một vài loại ung thư riêng biệt như:
xét nghiệm tủy để tìm ra các dạng ung thư máu
giám nghiệm tế bào cổ tử cung để chuẩn đoán ung thư cổ tử cung >> xét nghiệm adn bao nhiêu tiền
Nguồn: sưu tầm

Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2018

Tìm hiểu phác đồ điều trị tay chân miệng mới nhất

Bệnh tay chân miệng định nghĩa là 1 căn bệnh truyền nhiễm, dễ bùng phát thành dịch lớn và thường bắt gặp ở trẻ em. Trường hợp không được trị kịp thời và đúng cách, bệnh sẽ có khả năng hậu quả nguy hiểm. ≫> xét nghiệm adn ở đâu

Bật mí phác đồ trị tay chân miệng mới nhất

Bệnh tay chân miệng là gì?
Bệnh tay chân miệng là một căn bệnh truyền nhiễm do vi rút đường ruột là Coxsackie virus A16 và Enterovirus 71 (EV71) gây ra. Bệnh có thể dễ dàng lây lan qua đường không khí và bùng phát thành dịch lớn vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm.
Dấu hiệu chính của bệnh là tổn thương da dưới dạng phỏng nước ở các vị trí như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, cơ quan sinh dục. Bệnh có thể thể tự khỏi sau 7-10 ngày. Tuy nhiên cũng có trường hợp do điều trị sai cách đã dẫn tới những biến chứng nguy hiểm như viêm não, viêm màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong.

Ai là đối tượng chính dễ bị nhiễm bệnh?
Bệnh tay chân miệng có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng đối tượng dễ mắc bệnh nhất chính là trẻ em dưới 5 tuổi. Môi trường mẫu giáo, nhà trẻ chính là nơi tập trung các yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh. Đặc biệt trong thời điểm bệnh dịch. Là trong các đợt bùng phát. Bởi nguyên nhân lây bệnh chủ yếu là qua đường tiêu hoá. Mà nguồn lây chính là từ nước bọt, các nốt phỏng nước, phân của trẻ bị nhiễm bệnh.
Phác đồ điều trị bệnh tay chân miệng mới nhất năm 2018
Bệnh tay chân miệng được chia thành 4 cấp độ khác nhau. Mỗi cấp độ sẽ có những phương pháp điều trị cụ thể và phù hợp. Tuy rằng hiện nay chưa có loại thuốc đặc trị bệnh tay chân miệng nhưng bạn vẫn có thể tham khảo và thực hiện theo phác đồ điều trị bệnh tay chân miệng mới dưới đây:
Cấp độ 1
Sau thời gian ủ bệnh là 3-5 ngày, bệnh sẽ bắt đầu có những triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy. Đây là cấp độ nhẹ nhất nên bạn có thể tự điều trị tại nhà để nghỉ ngơi. Bạn cần cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng theo độ tuổi, cho trẻ uống nhiều nước. Nếu trẻ còn bú thì tiếp tục cho bú sữa mẹ. Với những trẻ lớn hơn nên cho trẻ ăn các loại thức ăn chứa nhiều vitamin A,C và kẽm để tăng cường sức đề kháng. Bên cạnh đó có thể cho người bệnh dùng Paracetamol liều 10 mg - 15 mg/kg/lần để giảm đau hạ sốt. Đồng thời chú ý vệ sinh răng miệng, cho trẻ nghỉ ngơi và tránh tiếp túc với môi trường bên ngoài. Tới tái khám sau 2 ngày đầu của bệnh.
Cấp độ 2
Ở giai đoạn này người bệnh sẽ có những triệu chứng như: loét niêm mạc miệng, lòng bàn tay, bàn chân có bọng nước, không đau, không ngứa, các nốt phỏng có thể bị vỡ ra dẫn đến bội nhiễm, trẻ sốt cao trên 39 độ C kèm các biểu hiện co giật, run chi, hôn mê… Trong trường hợp này bạn cần đưa trẻ đến bệnh viện để được điều trị kịp thời nhằm giúp xử lí kịp thời những biến chứng có thể sảy ra. Trường hợp trẻ sốt cao, loại thuốc paracetamol có thể sẽ không còn tác dụng hiệu quả. Do đó có thể sử dụng kết hợp thêm ibuprofen 5-10 mg/kg/lần hoặc Phenobarbital 5 - 7 mg/kg/ngày, uống khi trẻ quấy khóc. Tất cả các loại thuốc trên đều phải có sự chỉ định của bác sĩ, tuyệt đối không được tự ý mua về sử dụng. Bên cạnh đó cần bổ sung dinh dưỡng cho trẻ, nên cho trẻ ăn những thức ăn mềm, dễ tiêu hóa. ≫> dịch vụ xét nghiệm adn
Cấp độ 3
Đây là giai đoạn biến chứng của bệnh tay chân miệng, trẻ có biểu hiện của tình trạng suy hô hấp, yếu tứ chi, phù phổi, tăng huyết áp, trụy mạch. Lúc này người bệnh cần được tiến hành theo dõi và điều trị tại bệnh viện để có thể xử lý kịp thời các biến chứng nguy hiểm, giúp đảm bảo an toàn cho người bệnh.

Phòng ngừa bệnh tay chân miệng
Bệnh tay chân miệng là căn bệnh thường gặp ở trẻ nhưng bạn hoàn toàn có thể phòng ngừa bằng việc duy trì lối sống và sinh hoạt sạch sẽ, khoa học cho con mình bằng cách như sau:
Cần duy trì thói quen rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh ở cả người lớn và trẻ nhỏ.
Không gian sống cần sạch sẽ, thoáng mát, khô ráo, nhất là khu vực sinh hoạt chung như phòng khách, sàn nhà, tay nắm cửa, cầu thang…
Các loại đồ chơi, bát đũa, quần áo chăn màn của trẻ cũng cần được vệ sinh thường xuyên bằng nước sôi hoặc dung dịch sát khuẩn Cloramin B 2% để tiêu diệt mầm bệnh trước khi chúng sinh sôi và phát triển.
Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ giúp trẻ có khả năng đề kháng tốt với những loại vi khuẩn virus gây bệnh. Do đó, việc bổ sung nhiều rau xanh, hoa quả trong mỗi bữa ăn là điều cần thiết.


Tay chân miệng là bệnh dễ lây nhiễm, do đó bạn nên cho trẻ cách li với mầm bệnh, đeo khẩu trang khi ra ngoài và có thể cho trẻ nghỉ học nếu cần.
Cha mẹ cũng nên rửa tay sạch sẽ trước khi nấu thức ăn cho trẻ hoặc chơi đùa với trẻ. Nên cho trẻ ăn các loại thức ăn có nguồn gốc rõ ràng, không ăn các loại thư rau sống, gỏi cá, thịt tái hay các đồ ăn đóng hộp vì sức đề kháng của trẻ chưa tốt, có thể sẽ bị vi khuẩn tấn công.
Trên đây định nghĩa là thông tin về phác đồ chữa bệnh tay chân miệng mới cũng như cách phòng ngừa. Hi vọng những thông tin trên đây sẽ giúp bạn trị và phòng ngừa bệnh tay chân miệng cho con em mình một cách đặc biệt nhất.
Sưu tầm

Cẩn thận bệnh viêm phổi trong lúc trời giao mùa lạnh

Hiện nay thời tiết ở những địa phương đang chuyển lạnh kéo dài nên căn bệnh viêm phổi sẽ thường xảy ra khá nhiều. ≫> giá tiền xét nghiệm adn

cẩn thận bệnh viêm phổi trong lúc trời giao mùa trở lạnh



Bệnh viêm phổi được xác định là bệnh của phổi, chủ yếu do nhiễm vi khuẩn và virút gây nên.

Thực tế có hai dạng viêm phổi là viêm phổi thùy và viêm phổi đốm, vì vậy cần biết vấn đề này để phát hiện, chẩn đoán và điều trị phù hợp; đồng thời cũng lưu ý các biện pháp cần thiết để phòng bệnh.

Hai thể bệnh viêm phổi

Viêm phổi thùy: thường do loại phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) gây ra. Những tổn thương viêm phổi thùy thường khu trú ở một phần của thùy phổi hay cả thùy phổi, có thể ở một bên phổi hay cả hai lá phổi.

Trong giai đoạn sung huyết, vùng phổi bị tổn thương có dấu hiệu sung huyết với các mạch máu giãn ra; thoát hồng cầu, bạch cầu, tơ huyết vào phế nang, cấy dịch thấy có nhiều phế cầu khuẩn.

Ở giai đoạn gan hóa đỏ thường sau 1 - 2 ngày, thùy phổi viêm có màu đỏ và chắc như gan, dịch phế nang có nhiều hồng cầu và bạch cầu, cấy dịch thấy có nhiều phế cầu khuẩn.

Vào giai đoạn gan hóa xám, khi bạch cầu thay thế dần hồng cầu thì màu đỏ chuyển sang màu xám, phổi chắc như gan, màu nhạt; trong phế nang có nhiều đại thực bào và bạch cầu, ít hồng cầu.

Cuối cùng giai đoạn gan hóa vàng là giai đoạn lui bệnh, phổi trở lại màu nâu, hơi vàng, bạch cầu thoái hóa bị phân hủy, các đại thực bào dọn sạch phế nang.

Viêm phổi đốm: còn gọi là viêm phế quản phổi có đặc điểm là viêm từng ổ, vùng phổi lành xen kẽ với vùng phổi bị tổn thương. Các ổ tổn thương xuất hiện sớm hay muộn khác nhau, tiểu phế quản cũng bị viêm.

Nguyên nhân gây bệnh cũng khác nhau. Nét đặc trưng của loại viêm phổi này là có tiết dịch phế nang, tổ chức nhu mô phổi như tiểu phế quản tận cùng, ống và túi phế nang cũng bị viêm nhiễm, khối nhu mô phổi bị đông đặc.

Một thuật ngữ viêm phổi cũng đã được dùng để chỉ tình trạng viêm nhiễm cấp tính ở phổi.

Tổn thương xảy ra rải rác ở cả hai lá phổi, vùng phổi bị tổn thương xen kẽ với vùng phổi lành và dấu hiệu tổn thương không xuất hiện cùng một thời gian, phế quản thường bị thương tổn nặng, chung quanh là những ổ viêm phổi rộng hẹp thất thường.

Triệu chứng bệnh lý và chẩn đoán viêm phổi

Viêm phổi thùy: bệnh nhân có triệu chứng đau ngực đột ngột, đau vừa phải hoặc đau dữ dội, đau ở vùng dưới vú, đau ở bên phổi bị tổn thương hay ở phía đối diện; cơn đau có thể lan xuống vùng dưới gan, ruột thừa; đau tăng lên khi vận động, ho, thở mạnh. ≫> xét nghiệm adn cần những gì

Kèm theo là triệu chứng khó thở với mức độ vừa phải, tần số thở trên 25 lần mỗi phút, bệnh nhân không dám thở sâu vì đau ngực, môi có thể tím tái nhẹ.

Triệu chứng ho lúc đầu là ho khan, sau đó có đờm; ho làm triệu chứng đau ngực tăng lên; dấu hiệu khạc đờm lúc đầu là đờm nhầy, quánh dính, khó khạc ra; có khi đờm màu hồng, màu gỉ sắt, thường là chất nhầy mủ.

Người bệnh có cơn rét run xuất hiện đồng thời với triệu chứng đau ngực, đây là biểu hiện không có thường xuyên.

Trái lại triệu chứng sốt rất hay gặp, có thể xuất hiện cùng cơn rét run, nhiệt độ tăng nhanh có khi tới trên 400C; nếu không điều trị thì sốt kéo dài nhiều ngày, mạch nhanh. Đôi khi có dấu hiệu tâm thần như: lú lẫn, mau quên, chán ăn.

Nước tiểu ít và có màu sẫm. Cần phát hiện dấu hiệu bệnh lý sớm nếu bệnh nhân bị sốt dù sốt nhẹ hoặc có triệu chứng cơ năng không rõ ràng. Khi nhìn có thể thấy dấu hiệu lở mép miệng, gò má đỏ, giảm giãn nở lồng ngực bên bị thương tổn.

Khi sờ có dấu hiệu rung thanh âm tăng ở một vùng phổi.

Nếu nghe ở vùng gõ đục phát hiện 3 triệu chứng cơ bản như mất tiếng rì rào phế nang, có ran nổ, tiếng thổi ống luôn có tiếng ran nổ và nghe rõ nhất ở thì thở vào; những triệu chứng này không rõ khi có kèm theo tràn dịch màng phổi, lúc đó có thể nghe tiếng cọ của màng phổi, nếu tổn thương nhỏ và ở sâu thì không nghe thấy gì.

Trên phim chụp X-quang thấy một hình mờ đậm không đều, điển hình là thấy rõ giới hạn của một thùy phổi, không có dấu hiệu co kéo; hình ảnh thường thấy là hình tam giác mà đỉnh hướng vào phía bên trong rốn phổi và đáy hướng ra ngoài; nếu chụp nghiêng thấy bóng mờ có giới hạn rãnh liên thùy; hiện nay do sử dụng rộng rãi thuốc kháng sinh nên có thể làm thay đổi các hình ảnh trên phim chụp X-quang điển hình của viêm phổi thùy.

Viêm phổi đốm: thường xảy ra ở trẻ em dưới 1 tuổi nhưng cũng có thể xảy ra ở người lớn. Người già yếu cũng có khả năng bị viêm phổi đốm hay viêm phế quản phổi sau bệnh sởi, cúm, ho gà, hôn mê hoặc có bệnh mãn tính phải điều trị lâu.

Nguyên nhân gây bệnh thường do các loại phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae), liên cầu khuẩn (Streptococcus), tụ cầu khuẩn (Staphylococcus), trực khuẩn gram âm, virút cúm, Adenovirus...

Bệnh xảy ra từ từ, có khi đột ngột lúc bệnh tiên phát rút lui, sốt trở lại khoảng 39 - 400C; ở trẻ sơ sinh và người già triệu chứng sốt không rõ rệt, thân nhiệt có thể hạ. Người bệnh ho có đờm, có thể ho nhiều hoặc ít.

Khó thở nông và khó thở cả hai thì, nhịp thở nhanh, cánh mũi phập phồng, các cơ hô hấp co rút nhiều hoặc ít; ở trẻ sinh non, trẻ sơ sinh có thể có cơn ngừng thở ngắn, trường hợp nặng có rối loạn nhịp thở.

Dấu hiệu tím tái ở mức độ nhẹ và rất kín đáo; ở trẻ em biểu hiện tím tái xuất hiện khi khóc, khi bú; trường hợp nặng thì tím môi, tím đầu các chi và mặt. Khi sờ phát hiện dấu hiệu rung thanh âm từng vùng.

Nếu gõ nghe đục từng vùng xen kẽ với vùng phổi không bị tổn thương. Nghe hai phế trường có ran nổ hoặc ran ướt. Nhịp tim nhanh, mạch nhanh và nhỏ, có thể trụy tim mạch hoặc suy tim. Trẻ em có thể bỏ bú, nôn mửa, tiêu chảy.

Ở người lớn thường có hội chứng đau bụng cấp tính, có thể có vàng da và vàng mắt... Triệu chứng thần kinh cũng được ghi nhận như co giật, li bì, hôn mê... Trên phim chụp X-quang thấy đặc điểm hai phế trường có những đám mờ không đều.

Xét nghiệm thấy bạch cầu tăng 10.000 - 15.000/mm3 máu, đặc biệt bạch cầu đa nhân trung tính tăng 80 - 90%, thực tế cũng có thể bạch cầu không tăng cao do bệnh nhân đã dùng thuốc kháng sinh trước đó; tốc độ lắng máu cao, fibrinogen huyết tăng trong giai đoạn cấp tính.

Xét nghiệm vi khuẩn trong đờm rất cần thiết để chọn thuốc kháng sinh thích hợp vì dùng kháng sinh thích hợp khi chẩn đoán sớm sẽ có tiên lượng tốt.

Cấy máu là kỹ thuật cần làm, nên lấy máu lúc bệnh nhân sốt, kết quả cấy máu rất có ý nghĩa về tiên lượng và điều trị. Việc chọc dò màng phổi thực hiện khi có dấu hiệu tràn dịch màng phổi. Kỹ thuật soi phế quản cần làm khi viêm phổi mạn tính để chẩn đoán loại trừ ung thư phổi.


Streptococcus pneumoniae - phế cầu khuẩn thường gây viêm phổi

Trong thực tế, việc chẩn đoán viêm phổi thùy và viêm phổi đốm hay viêm phế quản phổi được xác định cơ bản căn cứ vào hội chứng nhiễm trùng và kết quả phim chụp X-quang.

Tuy vậy cũng cần chẩn đoán phân biệt với tràn dịch màng phổi, viêm phổi dưới màng, tràn khí màng phổi, hội chứng Loeffler, ápxe phổi, lao phổi, tắc mạch phổi, ung thư phổi, viêm phổi không điển hình do virút, viêm phổi kẽ do nhiễm Pneumocystis carinii...

Điều trị viêm phổi do nhiễm vi khuẩn

Việc điều trị bệnh viêm phổi do nhiễm vi khuẩn nói chung có khi rất đơn giản nhưng cũng có những trường hợp rất phức tạp vì có loại vi khuẩn còn nhạy cảm với các kháng sinh phổ rộng và một số vi khuẩn khác lại đề kháng với kháng sinh sử dụng nhất là đối với bệnh nhân nặng.

Điều trị viêm phổi cấp tính thể nhẹ trong lúc chưa có kháng sinh đồ thường sử dụng các loại kháng sinh cổ điển như penicilline G, ampicilline, lincomycine, cephalosporine, sulfamide... Và cần điều trị trong khoảng thời gian 2 tuần cho đến khi tình hình khả quan và hình ảnh bệnh lý trên phim chụp X-quang bị xóa đi.

Nếu bệnh nhân không khả quan hơn và khi đã có kháng sinh đồ thì nên xử trí điều trị theo kết quả ghi nhận là điều cơ bản.

Cần chọn một hoặc nhiều kháng sinh còn nhạy cảm với vi khuẩn.

Trường hợp lần đầu tiên dùng kháng sinh có hiệu quả thì nên duy trì kháng sinh đó và phối hợp thêm với một loại kháng sinh khác vì tác dụng của kháng sinh trên người không phải khi nào cũng giống như trên kết quả xét nghiệm, vì vậy cần xét nghiệm lại kháng sinh đồ nếu cần.

Ngoài ra nên phối hợp các phương pháp khác làm tăng tác dụng của kháng sinh và làm cho bệnh nhân dễ chịu. Sử dụng thêm thuốc làm long đờm, thuốc giảm ho khi bị mất ngủ, ho khan kéo dài. Bệnh nhân phải nằm nghỉ ngơi tại chỗ, tránh nhiễm lạnh.

Điều trị viêm phổi nặng cần lưu ý vì thể bệnh này thường xảy ra ở cơ thể suy nhược, sức đề kháng kém hoặc vi khuẩn có độc lực mạnh nên sẽ có nhiều biến chứng và đòi hỏi phải có sự chăm sóc đặc biệt vì trên thực tế việc điều trị viêm phổi ở những bệnh nhân gầy yếu, suy nhược khó hơn là viêm phổi ở các người bệnh khác.

Nên sử dụng kháng sinh liều cao và phối hợp các loại kháng sinh có hiệu lực, cho thở oxy ngắt quãng, không nên dùng thuốc an thần ức chế hô hấp, bổ sung nước và chất điện giải cho bệnh nhân tuổi cao nhất là nước hoa quả; khi có dấu hiệu mất nước cần truyền dịch.

Theo dõi tình trạng tim mạch, công tác hộ lý phải chu đáo, chống loét do nằm lâu; xoa bóp, gõ, rung lồng ngực để gây ho, khạc đờm; nếu có suy hô hấp phải điều trị tại khoa hồi sức cấp cứu.

Đối với bệnh nhân nghiện rượu, cần dùng kháng sinh liều cao và phối hợp kháng sinh. Đối với trẻ sơ sinh, cần hút đờm dãi và dùng liệu pháp oxy. Nếu bị suy hô hấp, trụy tim mạch cần dùng thêm corticoides.

Việc điều trị viêm phổi do nhiễm vi khuẩn kháng thuốc cần làm kháng sinh đồ để sử dụng loại kháng sinh thích hợp, đáp ứng có hiệu quả.

Điều trị viêm phổi do nhiễm virút

Đối với thể bệnh nhẹ, không cần phải điều trị triệu chứng mà chủ yếu là nghỉ ngơi, ăn uống các chất dễ tiêu hóa, sử dụng kháng sinh khi có bội nhiễm bằng biểu hiện ho, khạc đờm.

Đối với thể bệnh nặng, có dấu hiệu suy hô hấp cần điều trị tăng cường như thở oxy, điều chỉnh thăng bằng kiềm toan, dùng nước và chất điện giải theo nhu cầu và theo dõi tại khoa hồi sức cấp cứu.

Về điều trị đặc hiệu, virút không hoạt động được khi ở ngoài tế bào do đó chúng bắt buộc phải xâm nhập vào trong tế bào, các nhà khoa học đã nghiên cứu những chất ức chế sự xâm nhập của virút vào trong tế bào bằng chất enzym làm vô hiệu hóa các chất cảm thụ của tế bào, ngăn cản virút dính vào tế bào.

Có thể sử dụng kháng sinh trong các trường hợp viêm phổi do nhiễm virút có bội nhiễm vi khuẩn. Lưu ý trong thời gian có dịch bệnh lây lan phải dự phòng bằng phương pháp cách ly bệnh nhân và tẩy uế nhưng rất khó thực hiện vì bệnh có thể lây lan nhanh như virút cúm.

Việc tiêm chủng vắcxin phòng bệnh rất cần thiết nhất là đối với trẻ em nhưng trên thực tế khó đạt được yêu cầu vì môi trường có nhiều ổ chứa virút. Vì vậy, biện pháp phòng bệnh tốt nhất đối với các trường hợp viêm phổi do nhiễm virút là cách ly, tẩy uế và tiêm chủng vắcxin.

Lời khuyên của thầy thuốc

Để phòng bệnh viêm phổi, cần giữ ấm cổ và ngực, tránh bị lạnh đột ngột. Điều trị tích cực các ổ nhiễm trùng vùng mũi họng như viêm xoang có mủ, viêm amiđan có mủ, viêm sùi vòm họng VA (végétation adénoides) ở trẻ em.

Điều trị hiệu quả các đợt diễn biến cấp tính của bệnh viêm phế quản mạn tính, tiêm phòng vắcxin chống cúm; cách ly, tẩy uế là biện pháp cần thiết. Sau khi phẫu thuật các bệnh ở vùng tai mũi họng, cần sử dụng kháng sinh để đề phòng viêm phổi.

Đối với trường hợp trẻ em bị mắc ho gà, sởi, thủy đậu... Nhất thiết theo dõi hậu quả phế quản-phế viêm; lưu tâm áp dụng kháng sinh thích hợp khi có biểu hiện nhiễm trùng như ho, khạc đờm. ≫> xét nghiệm adn ở đâu chính xác

Nguồn: sưu tầm

Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2018

Tìm hiểu chuẩn đoán viêm phổi thế nào

Chẩn đoán sớm viêm phổi có thể giúp trị và cứu tính mạng. Những xét nghiệm sau sẽ giúp chẩn đoán bệnh viêm phổi. ≫> xét nghiệm adn ở đâu tốt nhất

Bật mí chuẩn đoán viêm phổi thế nào

Viêm phổi có thể xảy ra ở bất cứ ai, nhưng trẻ em, những người bị bệnh phổi mạn tính, hoặc người già thường dễ bị bệnh hơn. Căn bệnh có thể đe dọa tính mạng này chủ yếu gây ra bởi vi khuẩn, thường bị nhầm với cảm lạnh hoặc cúm. Chẩn đoán sớm có thể giúp điều trị và cứu tính mạng.
Bác sĩ sẽ nghi ngờ tình trạng viêm phổi nếu bệnh sử và khám thực thể có dấu hiệu. Dưới đây là các bước kiểm tra chẩn đoán viêm phổi:
1. Xét nghiệm máu
Xét nghiệm công thức máu toàn phần có thể xác định nhiễm trùng. Số lượng tế bào bạch cầu tăng khi có nhiễm vi khuẩn. Đôi khi các bác sĩ lấy máu từ ven để nuôi cấy. Nó có thể giúp xác định loại vi khuẩn gây ra nhiễm trùng và do vậy lựa chọn loại kháng sinh phù hợp.
2. Xét nghiệm nước tiểu
Xét nghiệm kháng nguyên nước tiểu có thể giúp chẩn đoán viêm phổi gây ra do phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) và vi khuẩn Legionella pneumophila.
3. Nuôi cấy đờm

Đờm của bạn được lấy từ cơn ho sâu có thể được xét nghiệm trong phòng thí nghiệm để xác định vi khuẩn gây bệnh. Xét nghiệm có thể giúp xác định loại kháng sinh điều trị tốt nhất.
4. Chụp X-quang ngực
Chụp X-quang ngực giúp nhìn thấy bên trong phổi để xác định mức độ và vị trí của nhiễm trùng.
5. Chụp CT
Chụp CT (cắt lớp vi tính) cung cấp hình ảnh chi tiết hơn về phổi trong những trường hợp nặng. Chụp CT cũng có thể có lợi trong trường hợp việc điều trị viêm phổi không có hiệu quả. ≫> dịch vụ xét nghiệm adn chất lượng
6. Đo độ bão hòa oxy mạch
Độ bão hòa oxy trong máy lý tưởng là trên u95%. Viêm phổi có thể cản trở khí oxy từ phổi vào máu. Do vậy, đo hàm lượng oxy máu có thể giúp chẩn đoán viêm phổi. Đo độ bão hòa oxy mạch là một kỹ thuật đơn giản, không xâm lấn để theo dõi những thay đổi oxy hóa trong hàm lượng oxy máu. Xét nghiệm này sử dụng một thiết bị goi là máy đo oxy mạch theo dõi gián tiếp tỷ lệ hemoglobin chứa oxy trong máu.
7. Khí máu động mạch
Xét nghiệm khí máu động mạch được sử dụng để đo mức độ giảm oxy trong máu. Đối với xét nghiệm này, một mẫu máu được lấy ra từ động mạch, chủ yếu ở cổ tay. Nó giúp xác định sự trao đổi khí oxy-carbon dioxid, xác định mức độ nghiêm trọng của bệnh.
8. Nội soi phế quản
Nội soi phế quản phổi có thể được yêu cầu giả dụ bạn bị viêm phổi nặng hoặc không cải tạo sau khi chữa với kháng sinh. Trong thủ thuật này, 1 ống mỏng, mềm có gắn camera được sử dụng để xem trực tiếp khí quản và phế quản. Điều này cho phép chuyên gia thu thập dịch hoặc mẫu mô nhỏ và xác định Nguyên nhân vì sao gây ra nhiễm trùng. ≫> xét nghiệm adn bao nhiêu tiền
BS Cẩm Tú

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2018

Những điều cần biết về bệnh viêm da cơ địa bây giờ

Bệnh viêm da cơ địa hay còn gọi là bệnh chàm thể tạng, eczema, sẩn ngứa Besnier, Liken đơn dạng mạn tính…. Viêm da cơ địa là bệnh lý biểu hiện cấp tính, bán cấp hoặc mạn tính. ≫> xét nghiệm adn ở tphcm

Các điều cần biết về bệnh viêm da cơ địa hiện nay

Đặc điểm của bệnh viêm da cơ đia là hay tái phát. Đa số trường hợp bệnh bắt đầu ở tuổi ấu thơ.
Triệu chứng điển hình của bệnh là các thương tổn da khô kèm theo ngứa. Do ngứa gãi nhiều mà da bị dày, bệnh nhân càng ngứa và gãi gây nên vòng bệnh lý “Ngứa-Gãi” làm cho bệnh nặng hơn và có nguy cơ bị bội nhiễm vi trùng.
Ts Nguyễn Duy Hưng, Bệnh viện Da liễu cho biết, bệnh có yếu tố di truyền, gia đình và hay xuất hiện ở những người có bệnh dị ứng khác như hen, viêm mũi dị ứng. Có tới 35% trẻ viêm da cơ địa có biểu hiện hen trong cuộc đời. Chẩn đoán bệnh không khó khăn, dựa trên các triệu chứng lâm sàng, nồng độ IgE trong máu thường tăng cao. 

Những điều cần biết về viêm da cơ địa:
- Tỷ lệ hiện mắc: Hiện nay, chưa có nghiên cứu về tỷ lệ hiện mắc viêm da cơ địa ở Việt Nam. Theo báo cáo của phòng khám Viện Da liễu quốc gia, có khi viêm da cơ địa chiếm khoảng 20% số bệnh nhân đến khám tại phòng khám. 
- Tuổi phát bệnh: thường vào hai tháng đầu, có tới 60% trẻ viêm da cơ địa phát bệnh trong năm đầu, 30% trong 5 năm đầu và chỉ có 10% phát bệnh từ 6-20 tuổi. Rất hiếm bệnh nhân phát bệnh khi trưởng thành. 
- Về giới không khác biệt rõ rệt giữa nam và nữ. 
- Yếu tố di truyền, gia đình cho thấy 60% người bị viêm da cơ địa có con cũng bị bệnh này. Nếu cả bố mẹ đều bị viêm da cơ địa thì có tới 80% con bị bệnh.
- Các yếu tố làm bệnh khởi phát và nặng lên bao gồm: các dị nguyên trong không khí như các chất thải của rệp nhà, len dạ... Ngoại độc tố của tụ cầu trùng vàng (Staphylococus aureus) đóng vai trò siêu kháng nguyên kích thích hoạt hóa T limphô và đại thực bào. Dị ứng nguyên nội sinh (endogenous antigens): trong huyết thanh bệnh nhân có kháng thể IgE có thể kích thích IgE hoặc T limphô đáp ứng viêm. Thức ăn: Một số thức ăn cũng có thể làm vượng bệnh như trứng, sữa, lạc, đậu tương, cá, bột mỳ… 
- Các yếu tố khác làm phát bệnh hoặc bệnh nặng lên, đó là giảm chức năng của hàng rào bảo vệ của da cùng với giảm lớp ceramic trên bề mặt da làm cho da dễ bị mất nước gây khô da. Mùa hay bị bệnh thường vào mùa thu đông, nhẹ vào mùa hè. Đồ len dạ của trẻ, của bố mẹ và thậm chí đồ này của chó mèo, đồ thảm hoặc đệm giường cũng làm cho bệnh nặng lên. ≫> dịch vụ xét nghiệm adn tại hà nội

Biểu hiện lâm sàng 

- Giai đoạn cấp tính: Biểu hiện bệnh khi cấp tính là đám da đỏ ranh giới không rõ, các sẩn và đám sẩn, mụn nước tiết dịch, không có vẩy da. Da bị phù nề, chảy dịch, đóng vảy tiết. Các vết xước do gãi tạo vết chợt, bội nhiễm tụ cầu tạo các mụn mủ và vẩy tiết vàng. Bệnh thường khư trú ở trán, má, cằm, nặng hơn có thể lan ra tay, thân mình.
Biểu hiện bán cấp với các triệu chứng nhẹ hơn, da không phù nề, tiết dịch.
- Giai đoạn mạn tính da dày thâm, ranh giới rõ, liken hoá, các vết nứt đau; đây là hậu quả của việc bệnh nhân ngứa gãi nhiều. Thương tổn hay gặp ở các nếp gấp lớn, lòng bàn tay, bàn chân, các ngón, cổ, gáy, cổ tay, cẳng chân.
Triệu chứng bệnh: khô da, ban đỏ - ngứa tạo thành vòng xoắn bệnh lý: ngứa-gãi-ban đỏ-ngứa... Ngoài ra người bệnh còn có các triệu chứng khác như viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc mắt và viêm ngứa họng, hen. Các biểu hiện bệnh lý như chứng vẽ nổi (dermographism), bệnh vẩy cá thông thường, dày sừng nang lông…có thể gặp trên bệnh nhân viêm da cơ địa. 

Vị trí hay gặp mặt, trán, mặt gấp các chi, gáy, mi mắt, cổ tay, mu tay, mu chân, trường hợp nặng có thể lan toàn thân.
Tiến triển của bệnh
Ts Nguyễn Duy Hưng cho biết, không điều trị bệnh tiến triển trong nhiều tháng, nhiều năm. Khoảng gần 50% bệnh khỏi khi ở tuổi thiếu niên, nhưng cũng nhiều trường hợp bệnh tồn tại lâu trong nhiều năm cho đến tuổi trưởng thành. Nhiều bệnh nhân bị hen hoặc các bệnh dị ứng khác.
Để chẩn đoán viêm da cơ địa cần có ít nhất 3 tiêu chuẩn chính và 3 tiêu chuẩn phụ.
4 tiêu chuẩn chính: 
- Ngứa. 
-. Viêm da mạn tính và tái phát (Chronic or chronically relapsing dermatitis). 
-. Hình thái và vị trí thương tổn điển hình (Typical distribution and morphology of AD rash). 
Trẻ em: Chàm khu trú ở mặt, vùng duỗi. 
Trẻ lớn và người lớn: Dày da, Lichen vùng nếp gấp. 
- Tiền sử cá nhân hay gia đình có bệnh cơ địa dị ứng (Personal or family history of atopic diseases) như hen, viêm mũi dị ứng, viêm da cơ địa.
Các tiêu chuẩn phụ: 
- Khô da 
- Viêm môi 
- Đục thủy tinh thể 
- Viêm kết mạc mắt và kích thích ở mắt tái phát. 
- Mặt: Đỏ, tái. 
- Dị ứng thức ăn 
- Chàm ở bàn tay 
- IgE tăng 
- Phản ứng da tức thì týp 1 dương tính 
- Dễ bị nhiễm trùng da và hay tái phát. 
- Ngứa khi ra mồ hôi 
- Vẩy phấn trắng 
- Chứng vẽ nổi 
- Giác mạc hình chóp 
- Các thương tổn khác giống dày sừng nang lông 
- Tuổi phát bệnh sớm 
-. Chàm núm vú 
- Nếp dưới mắt 
-. Quầng thâm quanh mắt
chữa viêm da cơ địa cần rất cẩn trọng, có sự cộng tác rất chặt chẽ giữa thày thuốc và người bệnh, đối với trẻ nhỏ là bố người mẹ bệnh nhân. Tuỳ theo thời kỳ bệnh định nghĩa là cấp tính, bán cấp hay mạn tính mà cho thuốc bôi phù hợp.
Nguồn: sưu tầm